[Trang chu] [Kinh sach]

THIỀN TÔNG VĨNH GIA TẬP

[mục lục][tựa][tiểu dẫn][thiền tông vĩnh gia tập]

[chương 01][chương 02][chương 03][chương 04]

[chương 05][chương 06][chương 07][chương 08][chương 09][chương 10]


CHƯƠNG III: TỊNH TU BA NGHIỆP

Tham, sân, tà kiến thuộc ư nghiệp. Nói hư dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi, nói hung ác thuộc khẩu nghiệp. Sát sanh, trộm cắp, dâm dục thuộc thân nghiệp.

Phàm người có chí muốn cầu đại đạo, trước tiên cần phải tu ba nghiệp cho thanh tịnh. Về sau, trong bốn oai nghi lần lượt vào đạo, nhẫn đến khi sáu căn đối trần tùy duyên liễu đạt, cả hai cảnh trí đều lặng thầm hợp với ư chỉ diệu huyền.

A.- Thế nào là tịnh tu thân nghiệp ?

Tự xét sâu xa trong bốn oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm, kềm thúc ba tội không cho sơ thất. Từ bi nuôi nấng chẳng hại mạng sống, tất cả loài hàm thức trên không dưới nước, không kể lớn nhỏ đều thương yêu bảo bọc cho đến loài ḅ bay máy cựa cũng không làm tổn hại. Gặp kẻ nguy nan ân cần cứu tế, dùng phương tiện độ khiến cho giải thoát. Đối với tiền bạc của cải người khác không cho th́ không lấy, nhẫn đến vật của quỷ thần làm chủ, dù là cây kim ngọn cỏ vẫn không cố phạm. Gặp người ăn xin nghèo khó, tùy theo tiền của ḿnh có, dùng ḷng cung kính bố thí khiến cho họ được an ổn, c̣n ḿnh không cầu sự báo ơn. Suy nghĩ như vầy: Chư Phật quá khứ trải vô lượng kiếp, thực hành bố thí cho cả voi ngựa bảy báu, đầu mắt năo tủy nhẫn đến xả bỏ thân mạng, không chút nuối tiếc. Nay ta cũng vậy, tùy theo khả năng bố thí, hoan hỷ cúng dường, tâm không lẫn tiếc. Đối với nữ sắc tâm không nhiễm trước. Phàm phu điên đảo bị dục làm say, đam mê phóng túng, không biết lỗi lầm của sự dâm dục, như vin cành hoa không biết có ẩn rắn độc. Người trí xem dục như miệng rắn độc, móng vuốt gấu hùm, lửa bùng sắt nóng cũng chẳng dụ được. Cột đồng giường sắt cháy lưng chín ruột, máu thịt bầy nhầy, đau thấu tâm tủy. Quán sát như thế chỉ khổ không vui. Túi da đựng phẩn tích chứa máu mủ, bề ngoài giả dối dồi phấn thoa hương, bên trong một mùi hôi thúi, dơ bẩn chảy ra làm chỗ nương ở của ḍi nhặng, thúi tha đến lỗ cầu xí cũng không b́ kịp. Người trí xét đó, chỉ thấy lông tóc, móng răng, da mỏng da dày, máu thịt, mồ hôi nước mắt, nước dăi, nước miếng, mủ mỡ, gân mạch năo mô, đàm vàng đàm trắng, gan mật cốt tủy, phổi thận, lá lách, dạ dày, tim, mỡ nước, bàng quang, ruột già ruột non, sanh tạng thục tạng, các đường tiểu tiện. Những vật như thế đều không có Ngă, mà do gió thức cổ động hư vọng sanh ra, ngôn ngữ dối trá, nói làm người bạn thân, kỳ thật oán giận ghét ghen làm cho hư đức chướng đạo, đó là tội lỗi nặng nhất phải nên xa ĺa như tránh giặc oán. Bởi thế, người trí xem đó tưởng như rắn độc, thà gần rắn độc, chẳng gần nữ sắc. V́ sao ? Rắn độc hại người chỉ chết một đời, nữ sắc trói buộc trăm ngàn muôn kiếp bị các độc hại khổ đau vô cùng, phải nên xét nghĩ chớ nên gần gũi.

V́ thế người trí cần phải kiểm điểm ba lỗi, chừa bỏ lỗi lầm, trái ác theo thiện : chẳng giết chẳng trộm, phóng sanh bố thí, không làm việc dâm dục bẩn thỉu, thường tu hạnh thanh tịnh. Ngày đêm chuyên cần hành đạo lễ bái, nương về Tam Bảo, chí cầu giải thoát, đối với thân mạng của cải phải tu ba pháp kiên cố. Biết thân hư huyễn không có tự tánh, sắc tức là không cái ǵ là ngă? Tất cả các pháp chỉ có giả danh không có nhất định. Thân này của ta, bốn đại năm uẩn mỗi mỗi đều chẳng phải ngă, hợp lại cũng không, vô minh không rơ, chấp lầm là ngă. Sát sanh, trộm cắp, dâm dục phóng túng, suốt ngày lẫn đêm không ngừng tạo nghiệp. Dù không chân thực nhưng thiện ác báo ứng vẫn như bóng tùy h́nh. Lúc quán như thế, chẳng cầu sự bất chánh để nuôi thân mạng, phải tự quán thân tưởng như rắn độc, v́ để trị bệnh nên nhận bốn sự cúng dường (Bốn sự : y phục, pḥng nhà, thức ăn, thuốc men.) Thân mặc y phục như che ghẻ lở. Miệng ăn thức ngon như bệnh uống thuốc. Tiết kiệm thân miệng không sanh sự xa hoa thái quá, nghe nói ít muốn rất thích tu hành. Cho nên Kinh nói : “Bậc đầu-đà ít muốn khéo biết vừa biết đủ, người ấy có thể vào đạo Hiền Thánh”. V́ sao ? Chúng sanh ở trong đường ác (Đường ác : địa ngục, ngạ quỷ , súc sanh.) trải vô lượng kiếp thiếu thốn áo cơm, kêu la thảm thiết, đói lạnh khổ sở, xương da dính nhau. Nay ta tạm thiếu chút đỉnh chưa phải là khổ. Thế nên người trí quí pháp khinh thân, siêng năng cầu pháp chí đạo, đến thân mạng cũng chẳng đoái hoài, đây gọi là tịnh tu thân nghiệp.

B.- Thế nào là tịnh tu khẩu nghiệp ?

Tự xét sâu xa bốn lỗi của miệng là căn bản sanh tử, tăng trưởng điều ác, che lấp muôn hạnh, gây chuyện thị phi. Thế nên, người trí muốn nhổ sạch gốc sanh tử, dứt trừ hư vọng, phải tu bốn như thật ngữ, đó là các lời ngay thẳng, dịu dàng, ḥa hợp và như thật. Bốn thật ngữ này là hạnh của người trí. V́ sao ? Lời ngay thẳng hay trừ lời thêu dệt, lời dịu dàng hay trừ lời hung ác, lời ḥa hợp hay trừ lời hai lưỡi, lời như thật hay trừ lời hư dối.

Lời ngay thẳng có hai thứ : Một là nói đúng pháp khiến cho người nghe tin hiểu rơ ràng. Hai là nói đúng lư khiến cho người nghe trừ hết nghi lầm.

Lời dịu dàng cũng có hai : Một là lời an ủi khiến cho người nghe vui vẻ gần gũi. Hai là tiếng cung thương thanh nhă khiến cho người nghe yêu thích tu tập.

Lời ḥa hợp cũng có hai: Một là sự ḥa hợp, nghĩa là thấy người đấu tranh, can gián khuyên nên xả bỏ, chẳng tự khen ḿnh, trái lại nhún nhường kính vật. Hai là lư ḥa hợp, nghĩa là thấy người thối tâm Bồ-đề ân cần khuyên tấn, khéo léo phân biệt Bồ-đề phiền năo, b́nh đẳng nhất tướng. Nếu tâm hành giả lui sụt th́ dùng đức độ để vỗ về, siêng năng đến trước người ấy khéo nói về việc mê ngộ.

Lời đúng như thật cũng có hai thứ : Một là sự thật, nghĩa là có th́ nói có, không th́ nói không, phải th́ nói phải, quấy th́ nói quấy. Hai là lư thật, nghĩa là tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, Niết-bàn Như Lai thường trụ bất biến.

Thế nên người trí thực hành bốn thật ngữ ấy, quán sát chúng sanh nhiều kiếp đến nay v́ bốn lỗi này làm cho điên đảo trôi ch́m sanh tử khó được xuất ly. Nay ta muốn nhổ gốc rễ của nó, quan sát khẩu nghiệp kia do môi răng, tiếng vang của yết hầu cuống rốn, gió thức kích động phát ra tiếng nói. Do tâm làm nhân duyên sanh hai thứ hư thật khác nhau, thật th́ lợi ích, hư th́ tổn mất. Thật là khởi gốc lành, hư là sanh cội ác. Cội gốc thiện ác là do lời nói nơi cửa miệng, nói lời thiện là tứ chánh, nói lời ác là tứ tà. Tà th́ bị khổ, chánh th́ được vui. Thiện là duyên trợ đạo, ác là gốc hư đạo. Thế nên người chánh phải có tâm hộ tŕ việc chánh, dùng lời thật để lập thân, tụng kinh niệm Phật quán sát thật tướng của lời nói vốn không tồn tại, nói nín b́nh đẳng. Đấy gọi là tịnh tu khẩu nghiệp.

C.- Thế nào là tịnh tu ư nghiệp ?

Do niệm tà làm nhân duyên hay sanh ra muôn điều ác. Nhờ chánh quán làm nhân duyên hay khởi lên vạn điều thiện. Cho nên kinh nói : “Ba cơi không có pháp riêng, chỉ do nhất tâm tạo tác”, nên biết tâm là căn bản của vạn pháp vậy.

Thế nào là tà niệm? Vô minh chẳng rơ chấp lầm là ngă, ngă kiến kiên cố tham sân tà kiến chấp càn ngoại cảnh sanh ra các thứ đắm nhiễm. Nên kinh nói : “Nhân v́ có ngă bèn có ngă sở. Nhân v́ ngă sở khởi ra sáu mươi hai kiến chấp đoạn thường, (Sáu mươi hai kiến chấp đoạn thường : chấp ngă là sắc, ngă khác sắc, ngă trong sắc, sắc trong ngă, cho đến thức cũng vậy.  5 ấm x 4 = 20; 20 x 3 đời = 60;  60 + đoạn và thường = 62.) chín mươi tám sử kiến tư (Chín mươi tám sử kiến tư :  88 Kiến hoặc cộng với 10 tư hoặc thành 98.) tương tục gây nên sanh tử luân hồi trong ba cơi chẳng thôi”. Phải biết tà niệm là gốc của các điều ác, thế nên người trí phải chế ngự mà không theo nó.

Thế nào là chánh quán ? Ta người không khác, sắc tâm chẳng hai; Bồ-đề phiền năo bản tánh không khác, sanh tử Niết-bàn b́nh đẳng nhất chiếu. Do đó, kinh nói : “Ĺa ngă, ngă sở, quán pháp b́nh đẳng, ngă và Niết-bàn cả hai đều không”.  Phải biết các pháp chỉ có danh tự. Cho nên kinh nói : “Cho đến Niết-bàn cũng chỉ có danh tự”. Lại nói : “Văn tự tánh ly, danh tự cũng không”. V́ sao ? Pháp chẳng tự có tên, giả đặt tên để gọi pháp, pháp đă chẳng phải pháp, danh cũng chẳng phải danh, danh chẳng đúng với pháp, pháp chẳng đúng với danh, danh pháp không đúng, tất cả không tịch. Cho nên kinh nói : “Pháp không có danh tự v́ ngôn ngữ dứt”. Thế nên diệu tướng th́ bặt danh, chân danh th́ chẳng phải tự. V́ sao ? Vô vi tịch diệt vi diệu tột cùng bặt tướng ĺa danh, đường tâm ngôn dứt. Phải biết đó là điểm quan yếu của sự về nguồn chánh quán. V́ thế người trí dùng chánh quán làm nhân duyên để muôn hoặc (Hoặc : Chỉ cho phiền năo) đều trừ, cảnh trí đều quên, nguồn tâm thanh tịnh. Đấy gọi là tịnh tu ư nghiệp.

Các điều kể trên đây, trong bốn oai nghi lúc sáu căn đối với trần cảnh phải tùy duyên liễu đạt để theo thứ lớp mà vào đạo vậy.

]


[mục lục][tựa][tiểu dẫn][thiền tông vĩnh gia tập]

[chương 01][chương 02][chương 03][chương 04]

[chương 05][chương 06][chương 07][chương 08][chương 09][chương 10]

[Trang chu] [Kinh sach]