[Trang chủ] [Kinh sách]

[ I ][ II ][ III ][ IV ][ V ][ VI ][ VII ][ VIII ][ IX ][  X,XI ][ XII ]

[Phần 1][Phần 2][Phần 3][Phần 4][Phần 5][Phần 6][Phần 7][Phần 8][Phần 9][Phần 10][Phần 11][Phần 12][Phần 13][Mục Lục]


Khóa Thứ Tư: Duyên Giác và Bồ Tát Thừa Phật Giáo

Bài Thứ 10

Ngũ Minh

 

A. Mở Đề

Người Tây phương thường chê đạo Phật là tiêu cực. Thật ra, giáo lư của đức Phật như chúng ta đă học trong mấy khóa phổ thông và nhất là trong khóa IV này, chứng tỏ một tinh thần vô cùng tích cực, lợi tha, cứu thế. Nhưng trong thực tế, chúng ta pphải công nhận rằng, phần đông các nhà hành đạo trong quá khứ; v́ thiếu phương tiện và khả năng chuyên môn nên chỉ hoằng pháp lợi sinh bằng phương tiện nội điển, mà không đi sâu vào các ngành sinh hoạt khác của xă hội. Do đó, Đạo Phật bị thu hẹp phạm vi hoạt động và mất rất nhiều ảnh hưởng trong đời sống đại đa số quần chúng.

Nhất là trong thế giới phức tạp ngaỳ nay, mà ḷng người bị chi phối rất nhiều v́ những sinh hoạt kinh tế, chính trị văn hóa,...nếu người hành đạo cứ giữ những lề lối cũ, không có những phương thức hoằng pháp thich hợp với xă hội mới, không có những kiến thức và khả năng thích hợp với các ngành hoạt động trong xă hội, th́ đạo Phật sẽ mất dần ảnh hưởng và không giữ được vai tṛ lănh đạo của ḿnh nữa.

Những ư nghĩ trên đây không phải là những phát minh mới mẽ ǵ của chúng tôi, mà chính hơn 2.500 năm trước, đức Phật đă nghĩ đếùn trong dạy các Đệ tử của Ngài phải học Ngũ minh, nếu muốn truyền giáo cho có hiệu quả.

Vậy Ngũ minh là ǵ và có tầm quan trọng thế nào? Đó chính là vấn đề mà chúng ta sẽ đề cập dưới đây:

B. Chánh Đề

I. Định Nghĩa

Ngũ minh là ǵ? Ngũ minh là năm kiến thức người hoằng pháp cần phải có, phải hiểu biết.

Những kiến thức ấy là những kiến thúc nào? Đó là những kiến thức về nôi minh, nhân minh, thanh minh, công xảo minh và y phương minh.

IIGiải Rơ Về Ngũ Minh

1. Nội minh. Trước tiên, người hoằng pháp phải cần có Nội minh, nghĩa là phải có kiến thức về nột điển Phật giáo.

Muốn hoằng pháp, nghĩa là muốn đem giáo pháp truyền bá trong quần chúng để mọi người đeù hưởng sự lợi ích, th́ trước tiên ḿnh phải tự t́m hiểu giáo lư của đạo Phật cả. Chúng ta đă biết rằng không hiểu giáo lư, th́ không ai có thể thực hành đúng theo Phật pháp được.Những t́nh trạng lộn xộn, mê tín, lố lăng của Đạo Phật Việt Nam, sở dĩ có ra cũng v́ người hành đạo thiếu sự am tường giáo lư nội điển. V́ không biết rơ nội điển cho nên không biết chủ trương chân chính của đạo Phật. Do đó, người ta mới đi sâu vào những hành động sai lầm: vàng mă, đồng bóng, cúng sao cúng hạn, dời mả, giết hại sing vật để tế Thần tế Thánh, cúng kiến ông bà.

Muốn cho t́nh trạng ấy chấm dứt, người hoằng pháp phải tự ḿnh thông hiểu giáo điển và truyền bá giáo lư cho tất cả tín đồ. Bao giờ cúng nên nhớ rằng đạo Phật chủ trương hiểu rồi mới làm, mà không hiểu tức là bị lạc đường lầm nẻo. Đứng ra hướng dẫn tín đồ mà chưa hiểu được nôi giáo, là một chuyện nguy hiểm vô chừng. Không ai có thể tha thứ được cái thái độ "nhứt manh dẫn quần manh" ấy.

Tăng giới phải là bực thông hiểu giáo lư đă dành. Các bậc cư sĩ đứng ra làm Phật sự, điều khiển những tổ chức Phật học cũng không thể không hiểu giáo lư. Một tệ đoan mà chúng ta thấy cần pahỉ sửa chữa gấp là phải làm thế nào cho những phần tử trong bộ máy của các tổ chức Phật học phải là những người có học đạo.

Chúng ta không thể nào không lo sợ khi thấy những người thiếu học Phật, đứng giữ địa vị tỏ chức và điều kiện trong một Hội Phật học hay một cơ quan giáo dục như gia đ́nh Phật tử chẳng hạn.

Cho nên người có hoằng pháp có bổ phận phải am tường nội điển. Phải t́m hiểu giáo lư hàm chứa trong ba tạng: Kinh, Luật, Luận. Giáo lư cao siêu trong ba tạng phân làm ba hệ thống rơ ràng:

a) Hệ thống Bát nhă: Giáo lư chân không chủ trương rằng vạn pháp là không thực, để hiển lư tánh chân không.

b) Hệ thống Pháp tướng: Giáo lư Duy thức chủ trương vạn pháp không thực tánh và có là do thức biến hiện ra ngàn sai muôn khác. 

c) Hệ thống Pháp tánh: Giáo lư pháp tánh là dẫn tướng qui tánh, chủ trương đạt đến chơn như, các pháp đều do chơn như duyên khởi mà có.

Về mỗi hệ thống giáo lư, có vô số pháp môn để chúng sinh thực hành và đạt đến quả vị giác ngộ. Người hoằng pháp cần thông hiểu các hệ thống giáo lư và các pháp môn phương tiện để có thể xem ra ứng tiếp với xă hội cho hợp tời và hợp cơ. Tóm lại, sự hiểu biết về nội điển là điều quan hệ vào bậâc nhất.

2. Nhân minh. Am tường giáo lư chưa đủ. Muốn tŕnh bày giáo lư ấy một cách rỏ ràng, khúc chiết, muốn lập thuyết vững vàng, người hoằng pháp cần phải dựa trên một phương pháp luận lư; phương pháp luận lư ấy gọi là nhân minh.

Nhân minh là ǵ? Là một môn luận lư học của Phật Giáo, chủ trương chứng minh lập thuyết bằng "Nhân", nghĩa là bằng cách suy cứu đến lư do.

Bộ sách vĩ đại làm căn bản cho Nhân minh học là Nhân minh đai sớ. Ở đây, chúng ta t́m hiểu qua đại cương để hiểu thế nào là Nhân minh mà thôi.

Một lập luânk đầy đủ theo Nhân minh phải có ba phần: Tôn, Nhân, Dụ, gọi là tam chi tác pháp. Tôn là chủ trương của ḿnh. Nhân là lư do thành lập chủ trương ấy. Dụ là những sự kiện đem ra để chứng minh (có thuận và nghịch). Ví dụ:

Tôn: Ông Nguyễn Văn A phải chết.

Nhân: V́ ông Nguyễn Văn A đă có kúc bị sanh ra.

Dụ: Phàm cái ǵ đó sinh tất phải có chết, như Không Tử, Trần Trọng Kim v.v...(đông dụ). Trái lại, phàm cái ǵ không có sanh tất không có chết, như hư không (dị dụ) v.v..

Đồng dụ là những thí dụ đồng loại (có sinh có diệt). Di dụ là những thí dụ khác loại (không sinh th́ không chết).

Ta thêm một ví dụ khác:

Tôn: Tṛ B sẽ bị phạt

Nhân: V́ tṛ B học bài không thuộc.

Dụ: Phàm, ai không thuộc bài th́ đều bị phạt cả, như tṛ C, tṛ ĐƯ"C (đồng dụ). Phàm, ai thuộc bài th́ đều không bị phạt như tṛ Mít, tṛ Ổi.

Ta nhận thấy môn luận lư nhân minh có hơi giống với luận lư học h́nh thức (syllogisme) của phương tây, và lại đầy đủ tinh vi hơn luận lư học này, v́ nó có đủ tính cách diễn dịch và qui nạp.

Ba phần chính của môn luận thức nhân minh, phải có liên lạc mật thiết với nhau. Nhân bao giờ cũng quan hệ đến Tôn, phải triệt để có tính cách của đồng dụvà tuyệt đối không có tính cách của di dụ. C̣n dụ bao giờ cũng phải dính líu đến Tôn và Nhân. Mỗi phần Tôn, Nhân, Dụ muốn đứng vững được, cần phải tránh nhiều lỗi. (Xem quyển PHPT khóa IX).

Học nhân minh có mục đích là biết phán đoán chân ngụy, thuyết phục ngoại đạo và đọc được các bộ luận về pháp tướng học, bởi v́ các Tổ ngày xưa theo lối lập luận này trong khi viết các bộ luận kia.

3. Thanh minh. Đây là môn học về ngữ môn văn tự, về âm thanh và về văn học. Sự truyền giáo cũng đă rất cần đến môn học này. Xưa các vị Tổ sư muốn đem giáo pháp truyền bá ở các nước, đă phải thông hiểu về các thứ sinh ngữ,đă phải có tài phiên dịch và trước tác. Nhiều bộ sách đạo lư lưu truyền đến tận nay mà cũng phải nhận là có những giọng văn sáng sủa lưu loát, chính là nhờ ở căn bản về thanh minh rất rộng răi vậy.

Trong Phật giáo, chỉ có Thiền tông chủ trương không chú trọng mấy về văn tự. Các tôn phái khác đều cần đến thanh minh; Người tu học cần phải có kiến thức về văn học mới có thể học hiểu giáo lư tu tập; nn môn học này. Xưa các vị Tổ sư muốn đem giáo pháp truyền bá ở các nước, đă phải thông hiểu về các thứ sinh ngữ,đă phải có tài phiên dịch và trước tác. Nhiều bộ sách đạo lư lưu truyền đến tận nay mà cũng phải nhận là có những giọng văn sáng sủa lưu loát, chính là nhờ ở căn bản về thanh minh rất rộng răi vậy.

Trong Phật giáo, chỉ có Thiền tông chủ trương không chú trọng mấy về văn tự. Các tôn phái khác đều cần đến thanh minh; Người tu học cần phải có kiến thức về văn học mới có thể học hiểu giáo lư tu tập; người truyền giáo phải có kiến thức về văn học để phiên dịch, trước tác với các nước Phật Giáo trên hoàn cầu.

Hiện nay, người Phật tử Việt Nam rất cần đến thanh minh: Phật Giáo Việt Nam đang đ̣i hỏi một kho kinh điển bằng tiếng Việt làm tài liệu học tập và truyền bá. Như thế các nhà hữu tâm của Phật Giáo phải lưu ư đến việc học tập văn chương và ngoại ngữ để có thể kiến thiết một nền Phật học bằng quốc văn.

4. Công xảo minh. Đây là môn học về công nghệ và kỹ thuật:

Trong công cuộc hành đạo, người tín đồ của Phật Giáo nhận thấy cần có đủ điều kiện kinh tế, mới có thể lập ra những cơ quan tu học cho Tăng giới, cho cư sĩ, mới có thể thành được những tổ chức cứu tế, giúp đỡ cho người nghèo đói tật nguyền, thể hiện ḷng từ bi bác ái. Công nghệ và kỹ thuật mỗi ngày mỗi thêm tiến bộ, người Phật tử cần phải học tập để óc những phương tiện hành đạo rộng răi trong phạm vi xă hôi nhân sinh.

Công nghệ và kỹ thuật, nếu chỉ là lợi khí cho sự kinh doanh vụ lợi ích kỷ, th́ không đáng cho ta phải bận tâm. Công nghệ và kỹ thuật ấy tiến bộ chừng nào, th́ gây đau khổ cho loài người chừng ấy, bởi v́ chúng sẽ biến ra lợi khí tranh giành, cướp đoạt và bóc lột. Kỹ thuật tiến bộ của máy móc, của bom đạn đă là một sự đe dọa ghê ghớm.

Người Phật tử học lấy công nghệ và kỹ thuật rồi đem công nghệ và kỹ thuật phụng sự nhân loại, thể theo ḷng vị tha và bác ái muốn cho muốn loài có hạnh phúc chân thực, tránh những tai hạo do dục vọng gây nên.

5. Y phương minh. Đây là môn học về các phương pháp chữa bệnh. Các đức Phật là những nàh lương y, trị cả tâm bệnh và cả thân bệnh cho chúng sinh, đức Dược Sư Lưu Ly là một gướng sáng. Thế gian này đầy dẫy những bệnh nhân đau khổ về vật chất lẫn tinh thần. Những phương thuốc chữa bệnh tinh thần đă đành rằng rất cần thiết, nhưng những phương thuốc chữa bệnh về vật chất cũng không phải là không quan trọng. Người Phật tử nếu có được những thời giờ rảnh rang nên học chuyên môn về thuốc, để có thực hành một công tác xă hội rất thích hợp với ḷng từ bi: đó là sự chữa bệnh. Các bác sic các lương y, nếu là Phật tử th́ đă có trong tay một phương tiện hành đạo rất quan trọng. Đem sự an ủi đến cho người bệnh, nâng đỡ họ trong cơn ốm đau, cử chỉ đó thực có thể tiêu biểu được một phần nào tinh thần cứu thế tích cực của đạo Phật.

Chúng ta hy vọng rằng sau này Phật Giáo sẽ có được những bệnh viện do Phật tử chăm Ngài on, và mỗi một gnôi chùa địa phương, có thể có một cơ quan cấp cứu tương trợ cho đồng bào trong những lúc nguy biến ngặt nghèo.

C. Kết Luận:

Trong thời đại hiện tại, xă hội đ̣i hỏi một phương thức hoằng pháp rộng răi hơn. Chúng ta không có thể áp dụng những phương tiện nhỏ hẹp, mà cần phải mở rộng phàm vi của hoằng pháp theo Đại Thừa Phật Giáo; người Phật tử cần phải y lời Phật dạy học Ngũ minh và mỗi người sẽ là một chiến sĩ từ thiện xă hội, lo xây đắp cho nền Phật giáo tương lai hưng thịnh và thực hiện được bảo cứu tế to rộng của đức Bổn sư.

 


[Phần 1][Phần 2][Phần 3][Phần 4][Phần 5][Phần 6][Phần 7][Phần 8][Phần 9][Phần 10][Phần 11][Phần 12][Phần 13][Mục Lục]

[ I ][ II ][ III ][ IV ][ V ][ VI ][ VII ][ VIII ][ IX ][  X,XI ][ XII ]

[Trang chủ] [Kinh sách]